Tác động của BĐKH

Các hiện tượng khí hậu cực đoan tiếp tục được ghi nhận với cường độ mạnh hơn và tần suất cao hơn.

1) Nhiệt độ

Nhiệt độ ở hầu hết các khu vực trên cả nước đều có xu thế tăng. Thời kỳ 1958-2018, nhiệt độ trung bình năm cả nước tăng khoảng 0,89°C. Trung bình mỗi thập kỷ, nhiệt độ tăng khoảng 0,1°C. Nhiệt độ tại các khu vực ven biển và hải đảo tăng ít hơn so với các khu vực ở sâu trong đất liền. Nhiệt độ tăng cao nhất vào mùa đông, thấp nhất vào mùa xuân. Khu vực có mức tăng nhiệt độ lớn nhất là Tây Nguyên, khu vực có mức tăng nhiệt độ thấp nhất là Nam Trung Bộ.[1]

2) Lượng mưa

Lượng mưa trung bình năm cả nước có xu thế tăng nhẹ trong thời kỳ 1958-2014. Lượng mưa tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân, giảm vào các tháng mùa thu. Trong gần 60 năm qua, lượng mưa giảm ở các khu vực phía Bắc từ 1% đến 7% và tăng ở các khu vực phía Nam từ 6% đến 21%; số lượng các cơn bão mạnh tăng.[2]

3) Các hiện tượng cực đoan liên quan đến nhiệt độ, lượng mưa

Ở hầu hết các khu vực trên cả nước, nhiệt độ ngày cao nhất (Tx) và thấp nhất (Tm) đều có xu thế tăng rõ rệt, mức tăng cao nhất trong thời kỳ 1961-2014 lên tới 1°C/thập kỷ; số ngày nóng (Tx 35°C) cũng có xu thế tăng, đặc biệt là ở vùng Đông Bắc, ĐBSH và Tây Nguyên với mức tăng phổ biến 2-3 ngày/thập kỷ, tuy nhiên, giảm cục bộ ở một số khu vực khác. Mưa cực đoan có xu thế biến đổi khác nhau giữa các vùng khí hậu: Giảm ở hầu hết các vùng thuộc Tây Bắc, Đông Bắc, ĐBSH và tăng ở phần lớn các vùng khí hậu khác. Mưa trái mùa và mưa lớn dị thường xảy ra nhiều hơn[3].

4) Bão và áp thấp nhiệt đới

Số lượng các cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông ảnh hưởng và đổ bộ vào Việt Nam trong thời kỳ 1959-2015 có xu thế ít biến đổi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hoạt động và ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới đến Việt Nam có những diễn biến bất thường: Bão mạnh (trên cấp 12) có xu thế tăng nhẹ; mùa bão kết thúc muộn hơn và đường đi của bão có xu thế dịch chuyển về phía Nam với nhiều cơn bão đổ bộ vào khu vực phía Nam hơn.[4]

5) Mực nước biển dâng

Theo số liệu quan trắc, mực nước biển tại hầu hết các vị trí ở dải ven biển Việt Nam đều có xu thế tăng trong thời kỳ 1993-2014 với mức độ tăng trung bình khoảng 3,34 mm/năm, trong đó, tăng mạnh nhất khoảng 5,58 mm/năm (Phú Quý) và tăng ít nhất là 1,33 mm/năm (Bạch Long Vĩ). Tuy nhiên, tại một số vị trí, mực nước biển có xu thế giảm như tại Cô Tô (1,39 mm/năm) và Hòn Ngư (5,77 mm/năm).

Theo số liệu vệ tinh, mực nước biển của toàn dải ven biển Việt Nam có xu thế tăng với tốc độ tăng trung bình khoảng 3,5 mm/năm, trong đó, tăng mạnh nhất ở khu vực ven biển Nam Trung Bộ (5,6 mm/năm) và tăng ít nhất ở khu vực ven biển vịnh Bắc Bộ (2,5 mm/năm).[5]

  1. Bộ NNPTNT (2017), Kế hoạch triển khai thực hiện đóng góp tự nguyện INDC của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn 2021-2030.
  2. Bộ TNMT (2010), TBQG lần thứ hai của Việt Nam gửi Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH.
  3. Bộ TNMT (2014), BUR lần thứ nhất của Việt Nam gửi Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH.
  4. Bộ TNMT (2017), BUR lần thứ hai của Việt Nam gửi Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH.
  5. Bộ TNMT (2018), Báo cáo kiểm kê KNK quốc gia năm 2014 của Việt Nam.