Bờ biển

I. Đối với các vùng ven biển và hải đảo của Việt Nam

Theo kịch bản RCP 4.5, vào giữa thế kỷ 21, độ cao sóng biển cả 7 vùng và 2 quần đảo đều giảm trong đó vùng ven biển từ Mũi Kê Gà – Cà Mau giảm ít nhất với mức giảm khoảng 4%, còn 2 vùng: Móng Cái – Hòn Dáu và Cà Mau – Kiên Giang giảm mạnh nhất với mức giảm khoảng 27%. Vào cuối thế kỷ 21, độ cao sóng biển đều giảm trong đó giảm mạnh nhất là vùng ven biển từ Móng Cái – Hòn Dáu với mức giảm khoảng 25%, còn vùng Mũi Đại Lãnh – Mũi Kê Gà có mức giảm ít nhất khoảng 6%. Tuy nhiên, riêng vùng ven biển từ Mũi Kê Gà – Cà Mau có mức độ tăng nhẹ khoảng 1% (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2020).

Theo kịch bản RCP 8.5, vào giữa thế kỷ 21, độ cao sóng biển cả 7 vùng và 2 quần đảo đều giảm, trong đó vùng ven biển từ Mũi Kê Gà – Cà Mau giảm ít nhất với mức giảm khoảng 2%, còn vùng Cà Mau – Kiên Giang có mức giảm mạnh nhất khoảng 26%. Vào cuối thế kỷ 21, độ cao sóng biển cả 7 vùng và 2 quần đảo đều giảm trong đó vùng ven biển từ Mũi Kê Gà – Cà Mau gần như không giảm; còn vùng ven biển từ Cà Mau – Kiên Giang có mức giảm mạnh nhất với mức giảm là 25% (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2020).

II. Đối với các tỉnh ven biển Việt Nam

Theo kịch bản RCP 4.5, vào giữa thế kỷ 21, mức thay đổi độ cao sóng tăng ở ba tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (1%), TP Hồ Chí Minh (4%), tỉnh Tiền Giang (5%); giảm mạnh nhất là tỉnh Quảng Ninh (34%) và  Kiên Giang (35%). Vào cuối thế kỷ 21, mức thay đổi độ cao sóng tăng ở ba tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (6%), TP Hồ Chí Minh (10%), Tiền Giang (10%); giảm mạnh nhất là tỉnh Quảng Ninh (33%), Kiên Giang (33%) (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2020).

Theo kịch bản RCP 8.5, vào giữa thế kỷ 21, mức thay đổi độ cao sóng tăng ở ba tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (3%), TP Hồ Chí Minh (6%), tỉnh Tiền Giang (7%); giảm mạnh nhất là tỉnh Quảng Ninh (31%) và  Kiên Giang (34%). Vào cuối thế kỷ 21, mức thay đổi độ cao sóng tăng ở ba tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (6%), TP Hồ Chí Minh (9%), Tiền Giang (10%); giảm mạnh nhất là tỉnh Quảng Ninh (28%), Kiên Giang (34%) (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2020).

1) Tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy

Theo kết quả quan trắc, mực nước biển đang gia tăng trong những năm gần đây với tốc độ trung bình xấp xỉ 3 mm/năm. Kết quả phân tích của nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH lên trường dòng chảy lớp mặt biển Đông do GS.TS Đinh Văn Ưu (chủ biên) cho thấy:

Trong mùa đông, về cơ bản dòng chảy mặt theo 3 kịch bản BĐKH RCP 2.6, RCP 4.5 và RCP 8.5 đều cho thấy sự hiện diện của một xoáy thuận lớn trên phạm vi toàn bộ biển, chủ yếu là các vùng nước sâu bị giới hạn bởi đường đẳng độ sâu 100 m. Sự tăng cường của dòng chảy dọc bờ tây Biển Đông xuất phát từ eo Đài Loan và eo Luzon kéo dài đến tận vĩ tuyến 5÷6 °N. Trên phần biển ven bờ Việt Nam, do sự kết hợp của dòng chảy gió với dòng chảy nhiệt-muối nên vận tốc dòng đạt giá trị trung bình từ 0,75÷0,85 m/s và giá trị cực đại trong một số thời kỳ có thể vượt quá 1 m/s.

Hoàn lưu nước mặt các tháng mùa hè hình thành chủ yếu do trường gió Tây Nam với đặc điểm bị phân hóa mạnh bởi tác động của dải hội tụ nhiệt đới có vị trí trung bình vắt chéo qua biển theo hướng từ Tây-Bắc đến Đông-Nam. Về tổng thể, trục chính của dòng chảy trên mặt biển hướng theo trục từ Tây-Nam đến Đông-Bắc kèm theo một hệ thống các xoáy quy mô trung bình. Do sự hiện diện và tăng cường của vùng nước ấm trên vùng biển sâu ngoài khơi Đông Nam Bộ, bộ phận xoáy nghịch phía Nam sau khi tách từ bờ ở khoảng vĩ tuyến 11°N được tăng cường. Vận tốc dòng chảy ở đây có giá trị trung bình vào khoảng 0,25 m/s với giá trị cực đại có thể vượt quá 0,5 m/s. Theo các kịch bản BĐKH, quy mô và cường độ của xoáy nghịch này tăng rất mạnh từ kịch bản thấp đến kịch bản cao; cường độ dòng chảy cũng tăng dần theo các kịch bản.

Nhìn chung, ảnh hưởng của trường dòng chảy mặt biển theo các kịch bản BĐKH được mô phỏng theo trường gió được xây dựng tương ứng với các kịch bản RCP của BĐKH. Về cơ bản, trong hai mùa đông và hè, trường dòng chảy trong lớp nước mặt đã thể hiện sự xuất hiện một số xoáy cục bộ dẫn đến sự gia tăng ảnh hưởng của lưỡi nước lạnh trong mùa đông và nước trồi trong mùa hè (Đinh Văn Ưu và nnk, 2015).

2) Tác động của biến đổi khí hậu đến thủy triều

Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về sự biến đổi của thủy triều do hiện tượng nước biển dâng, tuy nhiên số lượng các nghiên cứu còn rất ít. Các nghiên cứu này đều khẳng định vai trò quan trọng của sự thay đổi độ sâu và diện tích ngập nước của thủy vực dẫn đến sự thay đổi của thủy triều. Nghiên cứu “Tác động của nước biển dâng đến chế độ thủy triều dọc bờ biển Việt Nam” (Trần Thục và Dương Hồng Sơn, 2012) đã chỉ ra rằng, nước biển dâng làm thay đổi về địa hình dẫn đến những thay đổi khác nhau của thủy triều trong vùng biển Việt Nam.

Trong những năm gần đây dưới tác động của nước biển dâng do BĐKH, diễn biến triều cường tại các tỉnh, thành phố ven biển Việt Nam ngày càng phức tạp. Đỉnh triều cường trong các năm gần đây liên tục tăng và có xu hướng tiếp tục tăng trong thời gian tới. Điển hình như đỉnh triều tại trạm Phú An vào năm 2014 đạt 1,68 m, năm 2015 đạt 1,61 m, năm 2016 đạt 1,67 m, năm 2017 đạt 1,71 m, năm 2018 đạt 1,71 m, còn ngày 01 tháng 10 năm 2019 đạt tới 1,77 m, cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Tương tự tại trạm Nhà Bè, năm 2014 đỉnh triều đạt 1,7 m, năm 2015 đạt 1,63 m, năm 2016 đạt 1,69 m, năm 2017 đạt 1,72 m, năm 2018 đạt 1,7 m và ngày 01 tháng 10 năm 2019 đạt tới 1,8 m. Đỉnh triều tại 2 trạm nói trên đều vượt mức báo động III (1,5 m).

3) Tác động của biến đổi khí hậu đến nước dâng

a. Nước dâng do bão

Nước dâng do bão lớn nhất ghi nhận được tại Việt Nam xảy ra trong cơn bão Dan năm 1989 là 3,6 m. Trong lịch sử cũng đã ghi nhận nhiều thiệt hại do nước dâng do bão gây ra. Tháng 2 năm 1904 một cơn bão đổ bộ vào Nam Bộ, gây ra nước dâng và sóng lớn đã cuốn trôi nhiều người và tài sản. Bão Kelly năm 1981, đổ bộ vào Nghệ An gây nước dâng rất lớn, nhiều nơi nước dâng cao 2,8 ÷ 3,2 m trong đó cao nhất là tại Lạch Ghép (3,2 m). Năm 1985, bão Andy gây ra nước dâng 1,7 m tại cửa Dĩnh (Quảng Bình) và bão Cecil gây ra nước dâng 2,5 m tại Thừa Thiên – Huế. Bão Wayne năm 1986 gây ra nước dâng 2,3 m tại Trà Lý (Thái Bình). Năm 1987, bão Betty gây ra nước dâng 2,5 m tại Quỳnh Phượng (Nghệ An). Năm 1989, nước dâng do bão Dot gây ra tại Đồ Sơn (Hải Phòng) là 2,2 m, nước dâng do bão Irving gây ra tại Sầm Sơn (Thanh Hóa) là 2,9 m. Năm 1996, bão Frankie gây ra nước dâng 3,1 m ở Tiền Hải – Thái Bình, bão Niki gây ra nước dâng cao nhất là 3,1 m tại Hải Hậu – Nam Định (Đinh Văn Mạnh và nnk., 2011; Phạm Văn Ninh và nnk., 1991; Đỗ Ngọc Quỳnh., 1999) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).

Năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố báo cáo phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão cho dải ven biển Việt Nam và được cập nhật vào năm 2016. Theo đó, dải ven biển Việt Nam được chia thành các khu vực có đặc trưng nước dâng do bão khác nhau: (i) Khu vực từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa, nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là 350 cm, trong điều kiện biến đổi khí hậu, bão có khả năng mạnh thêm, nước dâng có thể lên đến trên 490 cm; (ii) Khu vực từ Nghệ An đến Hà Tĩnh, nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là trên 440 cm, trong tương lai, có thể lên trên 500 cm; (iii) Khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên – Huế,nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là 390 cm, trong tương lai có thể lên đến trên 420 cm; (iv) Khu vưc Đà Nẵng đến Bình Định, nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là 180 cm, trong tương lai có thể lên đến trên 230 cm; (v) Khu vực từ Phú Yên đến Ninh Thuận, nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là 170 cm, trong tương lai có thể lên đến trên 220 cm; (vi) Khu vưc từ Bình Thuận đến Bà Rịa – Vũng Tàu, nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là 120 cm, trong tương lai có thể lên đến trên 200 cm; (vii) Khu vực từ TP. Hồ Chí Minh đến Cà Mau, nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là 200 cm, trong tương lai có thể lên đến trên 270 cm;  (viii) Khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang, nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là 120 cm, trong tương lai có thể lên đến trên 210 cm (Bảng 4.4) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).

Nước dâng do bão ở các khu vực ven biển Việt Nam

Đơn vị: cm

Khu vực ven biển Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra (cm) Nước dâng do bão cao nhất có thể xảy ra (cm)
Quảng Ninh – Thanh Hóa 350 490
Nghệ An -Hà Tĩnh 440 500
Quảng Bình – Thừa Thiên – Huế 390 420
Đà Nẵng – Bình Định 180 230
Phú Yên – Ninh Thuận 170 220
Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu 120 200
TP. Hồ Chí Minh – Cà Mau 200 270
Cà Mau – Kiên Giang 120 210

Nguồn: (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016)

Nước dâng do bão đặc biệt nguy hiểm khi xuất hiện vào đúng thời kỳ triều cường, mực nước tổng cộng dâng cao, kết hợp với sóng to có thể tràn qua đê. Năm 2005 có 4 cơn bão gây nước dâng do bão khá cao, trong đó cơn bão số 2 (bão Washi) và bão số 7 (bão Damrey) xảy ra đúng vào lúc triều cường nên gây thiệt hại lớn tại Hải Phòng và Nam Định (Nguyễn Thế Tưởng và nnk., 2007; Nguyễn Mạnh Hùng và Dương Công Điển., 2006). Bên cạnh đó, khi có bão xảy ra, khu vực cửa sông ven biển ngoài hiện tượng nước dâng do gió và áp thấp khí quyển còn có hiện tượng nước dâng do mưa lớn và nước trong sông đổ ra. Như vậy, nguy cơ nước dâng tổng cộng trong bão sẽ trầm trọng hơn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).

b. Nước dâng do bão kết hợp với thủy triều

Nước dâng trong bão kèm theo sóng lớn là nguyên nhân chính gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đến đê biển và các công trình ven biển, và đặc biệt nguy hiểm nếu xảy ra trong thời kỳ triều cường. Nước dâng có xu hướng đạt giá trị cao nhất trong thời kỳ triều dâng nhưng về pha thủy triều và nước dâng do bão lại không có quan hệ rõ rệt. Mực nước dâng do bão khi được tách ra từ mực nước tổng cộng trong các mô hình có tính đến thủy triều thường thấp hơn so với mực nước dâng do bão mô phỏng trong điều kiện mực nước trung bình. Nước dâng do bão đạt giá trị cao hơn nếu bão đổ bộ vào các thời điểm mực nước triều kiệt và đạt thấp hơn khi bão đổ bộ vào các thời điểm triều cường (Nguyễn Xuân Hiển., 2013) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).

Tại một số khu vực có biên độ thủy triều lớn, như vùng Quảng Ninh – Hải Phòng và khu vực ven biển từ Vũng Tàu đến Cà Mau, nếu bão đổ bộ vào lúc triều cường thì dù bão chỉ gây nước dâng nhỏ nhưng cũng gây ngập vùng ven bờ, như trường hợp bão số 2 năm 2013 đổ bộ vào Hải Phòng chỉ với cấp 8, gây nước dâng 70 cm, nhưng vào lúc triều cường nên đã gây ngập khu vực Đồ Sơn – Hải Phòng. Trên thực tế tại Việt Nam cũng đã có một số cơn bão mạnh đổ bộ vào thời điểm triều cường như bão Washi năm 2005, bão Xangsen năm 2006. Trường hợp bão đổ bộ vào thời điểm nước ròng thì nguy cơ ngập lụt vùng ven bờ là thấp bởi ngay cả khi độ lớn nước dâng do bão đến 200 cm, thì mực nước tổng cộng trong bão cũng không quá cao, ví dụ như bão số 10 và 11 năm 2013 đã gây nước dâng trên 100 cm nhưng xuất hiện vào lúc triều đang rút nên không gây nguy hiểm vùng ven bờ (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).

Trong trường hợp nước dâng do bão kết hợp với thủy triều, mực nước tổng cộng trong bão với chu kỳ lặp lại 200 năm tại khu vực đồng bằng ven biển từ Quảng Ninh đến Nghệ An có thể đạt từ 450 ÷ 500 cm, trong khi tại khu vực ven biển từ Quảng Bình đến Quảng Nam chỉ đạt từ 150 ÷ 200 cm (Đinh Văn Mạnh và nnk., 2011). Trong trường hợp tính thêm cả nước dâng do sóng, mực nước tổng cộng trong bão tại khu vực Hải Phòng với chu kỳ lặp lại 100 năm có thể đạt tới trên 500 cm. Trong bối cảnh nước biển dâng do biến đổi khí hậu, mực nước tổng cộng trong bão tại khu vực Hải Phòng với chu kỳ lặp lại 100 năm có thể lên tới trên 600 cm (Đinh Văn Ưu., 2010; Nguyễn Xuân Hiển., 2013) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).

5) Tác động của BĐKH đến xói lở, bồi tụ bờ biển

a. Hiện trạng xói lở, bồi tụ bờ biển

Theo kết quả Báo cáo quốc gia về “Ðánh giá xói lở bờ biển Việt Nam” cho thấy, tình trạng xói lở bờ biển ở nước ta đang có những diễn biến hết sức phức tạp ở cả cấp độ quốc gia và cấp độ địa phương và có diễn biến rất khác nhau tùy theo địa hình của từng khu vực, được nhận thấy ở cả 3 miền: miền Bắc (từ tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh Ninh Bình), miền Trung (từ tỉnh Thanh Hóa đến tỉnh Bình Thuận) và miền Nam (từ tỉnh Bà Vũng Tàu đến tỉnh Kiên Giang).

Trong thời gian qua, hầu hết bờ biển Việt Nam đều đang bị phá hủy (mài mòn trên các bờ đá, xói lở trên các bờ cát và bùn-sét) ở mức độ rất khác nhau (Bảng 2.6). Từ cuối thế kỷ XX đến nay, mức độ xói lở bờ biển ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như cường độ, đặc biệt trên các đoạn bờ cấu tạo từ trầm tích bở rời (Vũ Văn Phái, 2008).

 Số lượng các đoạn bờ biển bị xói lở ở Việt Nam trong các giai đoạn từ trước năm 1949 đến nay

Khoảng thời gian Số đoạn bờ bị xói lở
Trước năm 1949 13
Từ năm 1950-1969 14
Từ năm 1970-1979 18
Từ năm 1980-1989 95
Từ năm 1990-2000 157
Từ năm 2001 đến nay Hầu hết đường bờ biển đều bị xói lở

Nguồn: (Vũ Văn Phái, 2008)

b. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến xói lở, bồi tụ bờ biển

Nước biển dâng: Trong những năm gần đây mực nước biển thực đo tại các trạm hải văn có xu thế tăng với tốc độ mạnh nhất là 5,58 mm/năm. Đối với vùng ĐBSCL có mực nước dâng tại trạm Thổ Chu là 5,28 mm/năm (thời gian quan trắc từ năm 1995-2014) và trạm Phú Quốc là 3,40 mm/năm (thời gian quan trắc từ năm 1986-2014). Kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016) cho thấy, khu vực ĐBSCL sẽ ngập chìm từ 19÷39 % nếu mực nước biển dâng thêm 1 m, sẽ làm tăng khả năng gây xói lở bờ biển, vùng cửa sông ven biển và suy thoái rừng ngập mặn ven biển.

BĐKH làm tăng lưu tốc dòng chảy về mùa lũ và tạo ra chênh lệch mực nước lớn hơn trước đây giữa mùa lũ và mùa kiệt cũng là những tác động làm gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển vùng cửa sông.

Related

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *