Kế hoạch hành động Quốc gia về Khí hậu

Tại Việt Nam, đã có rất nhiều các chính sách, văn bản pháp quy liên quan đến BĐKH được ra đời. Trong đó, có thể kể đến là Nghị quyết số 24 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được ban hành năm 2013. Đây là văn bản mang tính định hướng của Đảng trong vấn đề ứng phó với BĐKH. Tiếp theo là Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi và ban hành năm 2013, trong đó có một chương riêng về BĐKH. Một số văn bản pháp quy quan trọng khác cũng đã được ban hành như Luật Tài nguyên nước (2014), Luật Phòng chống thiên tai (2015), Luật Khí tượng Thủy văn (2016). Năm 2015, Việt Nam cũng đã công bố Báo cáo Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định – INDC và đã trở thành NDC sau khi Việt Nam phê duyệt thỏa thuận Paris vào ngày 3 tháng 11 năm 2016 (bỏ cụm từ dự kiến) nhằm thể hiện nỗ lực và trách nhiệm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế trong công cuộc ứng phó với BĐKH. Bên cạnh đó, kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam cũng đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cập nhật vào tháng 10 năm 2016 nhằm cung cấp những thông tin mới nhất về những biểu hiện, xu thế BĐKH và nước biển dâng trong quá khứ và đưa ra kịch bản BĐKH và nước biển dâng trong thế kỷ 21 ở Việt Nam. Hiện tại Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thiện dự thảo nghị định Chính phủ về lộ trình và phương thức để Việt Nam tham gia giảm nhẹ phát thải KNK toàn cầu và bảo đảm tính hiệu quả của đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Đây sẽ là cam kết chính trị mạnh mẽ nhất với cộng đồng quốc tế sau khi thỏa thuận Paris được Việt Nam thông qua.

Nhận thức được rất rõ tầm quan trọng của việc ứng phó với BĐKH, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách cũng như xây dựng các chương trình, chiến lược quốc gia ứng phó với BĐKH. Ngày 25 tháng 9 năm 2012 kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 – 2020 đã được ban hành theo quyết định 1474/QĐ-TTg và đã triển khai, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần hỗ trợ cho Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đưa ra những kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ứng phó với BĐKH trong thời gian qua. Một số nhiệm vụ, dự án khi triển khai đã mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng và được sự đồng thuận, đánh giá cao của người dân và chính quyền địa phương. Trong đó có thể kể đến như mô hình nhà đa năng tránh bão, lũ, kè, kênh thủy lợi kết hợp đường giao thông nông thôn; mô hình xử lý nước mặn thành nước ngọt; trồng rừng ngập mặn ven biển, trồng rừng phòng hộ đầu nguồn kết hợp giải pháp sinh kế cho người dân.

Cho đến nay, việc thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH tại các bộ ngành và địa phương đã mang lại một số hiệu quả nhất định như: (1) Các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, được xây dựng phù hợp với điều kiện của các bộ, ngành, địa phương và chú trọng giải quyết các vấn đề cấp bách liên quan đến BĐKH đối với sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung; (2) nhận thức về BĐKH của các bộ, ngành, địa phương đã được triển khai nhân rộng đến đông đảo cán bộ và người dân.

Tuy nhiên, một số nội dung đã được phê duyệt trong kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012-2020 đã được triển khai nhưng kinh phí phân bổ còn thấp so với nhu cầu dẫn đến những hạn chế trong việc triển khai thực hiện các hoạt động. Ngoài ra, khi triển khai trong thực tế, kế hoạch cũng tồn tại một số hạn chế nhất định như: (1) Quá chú trọng vào các chương trình, dự án nhằm triển khai các nhiệm vụ thích ứng với BĐKH mà thiếu các nhiệm vụ nhằm giảm nhẹ BĐKH, chưa kết hợp chặt chẽ giảm nhẹ và thích ứng và chưa xem xét đến vấn đề đồng lợi ích; (2) Những nội dung đưa ra còn mang tính khái quát, nhiều vấn đề chưa thiết thực với một số địa phương; KHHĐ của địa phương đã được xây dựng nhưng việc triển khai vẫn còn hạn chế; (3) Các đề tài/dự án được phê duyệt trong danh mục chưa theo kịp được sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện thực tế và thiếu nguồn lực để thực hiện. Bên cạnh đó còn nhiều đề tài dự án chưa thể thực hiện ngay được do còn thiếu và yếu về các nguồn lực. (4) Một số đề tài/dự án chưa tương thích với các nhiệm vụ thuộc Kế hoạch Thích ứng quốc gia NAP.

Như vậy, có thể thấy rằng, kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 – 2020 đã có những thành công quan trọng nhưng cũng tồn tại những hạn chế. Mặt khác, bối cảnh quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi về vấn đề ứng phó với BĐKH: Đàm phán quốc tế, vấn đề năng lượng tái tạo, chính sách quốc tế, chính sách của VN. Các quốc gia trên thế giới có nhiều phân cực, chuyển từ cơ chế cam kết, đóng góp chống BĐKH nhưng có phân biệt giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển sang cơ chế hợp tác dựa trên khả năng tự quyết định của mỗi quốc gia. Sau COP20 (2014) và đến COP21 (2015), hợp tác quốc tế về BĐKH đã có nhiều thay đổi nhất là khi triển khai dự kiến đóng góp quốc gia do quốc gia tự xác định (NDC), NDC của Việt Nam hiện tại cũng đang được cập nhật và dự định sẽ đệ trình UNFCCC vào năm 2020, Nghị định về lộ trình cắt giảm phát thải KNK cũng sắp được ban hành. Do đó chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về các cam kết cắt giảm KNK và thích ứng với BĐKH. Thêm nữa, IPCC và Việt Nam cũng đã có những công bố mới về kịch bản BĐKH và nước biển dâng. Các Bộ, ngành và địa phương cũng đã xây dựng kế hoạch hành động ứng phó của mình. Vì thế kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH cần được rà soát, cập nhật và điều chỉnh. Bên cạnh đó, cho đến nay lộ trình thực hiện kế hoạch quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 – 2020 sẽ kết thúc vào cuối năm 2020, do đó yêu cầu đặt ra là phải tiến hành xây dựng, cập nhật kế hoạch quốc gia ứng phó với BĐKH cho giai đoạn tiếp theo.

Liên quan đến kế hoạch xây dựng, cập nhật kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, tại quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2017 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, trong đó giao Bộ Tài nguyên và Môi trường cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của quốc gia. Đến nay Bộ cũng đã ban hành Hướng dẫn “Xây dựng, cập nhật kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2050” nhằm thống nhất triển khai việc xây dựng, cập nhật kế hoạch hành động.

Ngoài ra, để thực hiện thành công 10 nhiệm vụ của Chiến lược quốc gia về BĐKH và góp phần thực hiện thỏa thuận Paris và kế hoạch thực hiện NDC, cần thiết phải xây dựng và cập nhật Kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với BĐKH cho giai đoạn 2021 – 2030. Dự án “Xây dựng, cập nhật kế hoạch hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2050” được thực hiện sẽ là cơ sở cho việc thực hiện các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và triển khai các cam kết của Việt Nam về các nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu.

Xây dựng và thực hiện KHHĐ quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2021-2030 chính là việc cụ thể hóa lộ trình của Việt Nam thực hiện các cam kết với cộng đồng quốc tế theo Thỏa thuận Paris. Kế hoạch hành động quốc gia sẽ tập trung triển khai thực hiện các hành động thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải KNK cụ thể, ưu tiên và cấp thiết ở ngắn hạn nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn đã được xác định trong NDC và NAP. Kế hoạch hành động quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 cũng là định hướng cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương tiếp tục xây dựng và triển khai các hành động thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021-2030 tương ứng với thẩm quyền quản lý của các bộ, ngành và địa phương. Triển khai thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia giai đoạn 2012 – 2020 cũng góp phần đạt được các mục tiêu đề ra trong Nghị quyết 24 và trong Chiến lược quốc gia; giúp Việt Nam chủ động ứng phó hiệu quả với BĐKH, duy trì cân bằng hệ sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững.

Related

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *